Trên bản đồ Nam Bộ hôm nay, từ Biên Hòa, Sài Gòn cho đến miệt An Giang, đâu đâu cũng có những ngôi đền, con đường mang tên một vị danh tướng: Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Ông được hậu thế tôn kính như người đặt nền móng hành chính đầu tiên cho cả một vùng đất phương Nam. Vậy Nguyễn Hữu Cảnh là ai, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn với công cuộc mở cõi ra sao? Bài viết này của Lịch Sử VN sẽ dựng lại chân dung vị khai quốc công thần ấy một cách trọn vẹn, từ gia thế, sự nghiệp cho đến di sản để lại cho muôn đời.
Nguyễn Hữu Cảnh là ai?

Trước khi đi sâu vào từng chặng đời, cần một phác họa tổng quát về nhân vật. Đây là một danh tướng có vị trí đặc biệt trong lịch sử khai phá vùng đất phía Nam.
Nguyễn Hữu Cảnh (1650 – 1700) là một danh tướng thời các chúa Nguyễn, nổi bật dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chu, được phong tước Lễ Thành hầu. Ông được sử sách và hậu thế tôn vinh là vị tướng có công lớn trong việc xác lập chủ quyền và tổ chức bộ máy hành chính cho vùng Đồng Nai – Gia Định vào năm 1698, đưa miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính của Đại Việt.
Một chi tiết đáng lưu ý về danh xưng: nguyên danh của ông vốn là Nguyễn Hữu Kính (chữ Hán viết với nghĩa “tấm gương”), nhưng cách đọc chệch thành “Cảnh” về sau lại trở nên phổ biến và quen thuộc hơn cả, đến mức trở thành tên gọi chính thức trong dân gian và nhiều tài liệu.
Tiểu sử Nguyễn Hữu Cảnh và xuất thân gia đình

Để hiểu vì sao ông sớm trở thành một võ tướng tài ba, một danh nhân lịch sử, chúng ta cần nhìn lại cội nguồn xuất thân. Tiểu sử Nguyễn Hữu Cảnh gắn liền với một dòng họ công thần bậc nhất của xứ Đàng Trong.
Quê hương và năm sinh
Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650 tại thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc – nay thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Dòng họ Nguyễn Hữu vốn theo chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII. Ông nội của ông là Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với họ Trịnh lấn quyền vua Lê nên đã theo phò chúa Nguyễn vào Đàng Trong và dừng chân ở đất Quảng Bình. Chính mảnh đất đầy nắng gió này đã sinh dưỡng nên một trong những danh tướng lỗi lạc nhất của công cuộc Nam tiến.
Dòng dõi công thần của Nguyễn Hữu Cảnh
Nguyễn Hữu Cảnh là con trai thứ ba của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật – một danh tướng trụ cột của các chúa Nguyễn trong cuộc phân tranh với chúa Trịnh. Trong gia đình ấy còn có người anh là Nguyễn Hữu Hào, một võ tướng đồng thời là tác giả truyện thơ Nôm nổi tiếng, cho thấy đây là một dòng họ vừa có truyền thống binh nghiệp vừa trọng văn chương chữ nghĩa. Lớn lên trong môi trường hun đúc cả võ nghiệp lẫn khoa bảng như vậy, Nguyễn Hữu Cảnh sớm được rèn giũa chí khí cùng tài năng quân sự.
Theo các gia phả và một số nhà nghiên cứu, dòng họ này còn được cho là hậu duệ của những bậc khai quốc công thần thuở trước. Tuy nhiên, đây là những mối liên hệ phả hệ mang tính truyền thừa, cần được nhìn nhận một cách thận trọng thay vì khẳng định tuyệt đối. Điều chắc chắn là ông trưởng thành trong một môi trường gia đình giàu truyền thống phụng sự, nền tảng vững chắc cho sự nghiệp về sau.
Sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh trước cuộc kinh lược năm 1698

Trước khi ghi dấu ấn đậm nét ở phương Nam, Nguyễn Hữu Cảnh đã trải qua một quá trình binh nghiệp dày dạn, khẳng định tài năng qua nhiều trận mạc. Chính những chiến công thời kỳ này đã tạo dựng uy tín để ông được giao trọng trách lớn hơn.
Xuất thân từ dòng dõi tướng lĩnh, ông theo nghiệp võ và sớm phụng sự dưới trướng các chúa Nguyễn. Dấu ấn quân sự nổi bật đầu tiên của ông gắn với biên cương phía nam giáp vương quốc Champa. Vào những năm 1690 – 1691, vua Champa bấy giờ là Kế Bà Tranh đem quân quấy nhiễu biên giới, sát hại cư dân vùng phủ Diên Ninh. Trong hai năm 1692 – 1693, Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử làm thống binh đem quân dẹp yên, ổn định lại vùng biên.
Đây không chỉ là một chiến công quân sự đơn thuần. Sau khi bình định, phần đất còn lại của Champa được tổ chức lại thành trấn Thuận Thành, rồi lập nên dinh Bình Thuận, tương ứng với vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay. Chính trong lần này, Nguyễn Hữu Cảnh đã lần đầu bộc lộ năng lực không chỉ ở việc cầm quân mà còn ở tài tổ chức, sắp đặt cương vực và an dân sau chiến trận.
Nhờ công lao ấy, ông được thăng chức Chưởng cơ và được cử làm Trấn thủ dinh Bình Khang, tương ứng với vùng Khánh Hòa ngày nay. Những năm tháng trấn nhậm và cầm quân nơi vùng đất mới đã tôi luyện cho ông kinh nghiệm quý báu về cả quân sự lẫn tổ chức cai trị, đặt nền cho sứ mệnh trọng đại mà chúa Nguyễn sắp giao phó.
Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định năm 1698 như thế nào?

Đây là sự kiện quan trọng nhất trong sự nghiệp và cũng là dấu son làm nên tên tuổi bất tử của ông. Cuộc kinh lược năm 1698 đã đặt nền tảng hành chính đầu tiên cho toàn bộ vùng đất Nam Bộ.
Bối cảnh và sứ mệnh kinh lược
Cần hiểu đúng rằng trước năm 1698, người Việt đã di cư, khai khẩn và sinh sống trên vùng đất Đồng Nai – Gia Định từ nhiều thập niên trước, kể từ các đợt di dân và giao thiệp với Chân Lạp hồi đầu thế kỷ XVII. Tuy nhiên, vùng đất rộng lớn ấy vẫn còn thưa thớt về tổ chức, chưa có một bộ máy quản lý chính quy của nhà nước. Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai nhằm thiết lập trật tự hành chính cho vùng đất này.
Thiết lập bộ máy hành chính
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép lại khá rõ công việc của ông. Nguyễn Hữu Cảnh lấy vùng Đồng Nai đặt làm phủ Gia Định, chia thành hai đơn vị: lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long và dựng dinh Trấn Biên (vùng Biên Hòa ngày nay), lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình và dựng dinh Phiên Trấn (vùng Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Ở mỗi dinh, ông đặt các chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để trông coi việc cai trị. Đây chính là bộ khung hành chính đầu tiên đặt nền cho sự quản lý của nhà nước trên vùng đất phương Nam.
Chiêu mộ lưu dân và tổ chức dân cư
Bên cạnh việc dựng bộ máy, Nguyễn Hữu Cảnh còn đặc biệt chú trọng đến con người và sản xuất. Ông tổ chức chiêu mộ lưu dân từ các vùng Ngũ Quảng vào khai khẩn đất hoang, tiến hành đăng bạ hộ tịch, lập sổ đinh sổ điền để quản lý dân cư và thu thuế. Với cộng đồng người Hoa đến định cư, ông cho tổ chức thành các đơn vị riêng như xã Thanh Hà ở Trấn Biên và xã Minh Hương ở Phiên Trấn, rồi ghép vào sổ hộ tịch chung. Nhờ những chính sách bài bản ấy, một vùng đất trước đây còn hoang sơ đã nhanh chóng trở nên trù phú, đông đúc và có quy củ.
>> Đọc thêm ngay: Tóm tắt lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ từ khởi nguyên đến nay
Công lao của Nguyễn Hữu Cảnh có ý nghĩa gì với lịch sử Việt Nam?

Vượt lên trên tầm vóc của một cá nhân, công lao của Nguyễn Hữu Cảnh mang ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình biên niên sử Việt Nam. Có thể nhìn nhận đóng góp ấy trên nhiều phương diện gắn bó chặt chẽ với nhau.
Trước hết, việc lập phủ Gia Định năm 1698 đã chính thức xác lập chủ quyền và quyền quản lý của nhà nước trên vùng đất Đồng Nai – Gia Định, đưa nơi đây trở thành một bộ phận hành chính của Đại Việt. Đây là bước đi mang tính pháp lý và tổ chức, khác biệt về chất so với quá trình di dân tự phát trước đó. Nói cách khác, công lao của ông không nằm ở chỗ “khai sinh” ra vùng đất từ hư vô, mà ở chỗ quy tụ, sắp đặt và thể chế hóa những gì đã manh nha, biến một không gian di dân rời rạc thành một thực thể hành chính có chủ quyền rõ ràng.
Thứ hai, bộ máy hành chính cùng chính sách chiêu dân, khuyến nông mà ông thiết lập đã tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế – xã hội lâu dài của cả vùng Nam Bộ, biến nơi đây thành một vựa lúa và trung tâm trù phú về sau. Thứ ba, xét trong toàn bộ công cuộc Nam tiến kéo dài nhiều thế kỷ, sự nghiệp của ông là một mắt xích then chốt, góp phần định hình bản đồ lãnh thổ Việt Nam như ngày nay. Chính vì thế, hậu thế trân trọng gọi ông là một trong những người đi mở cõi, đặt nền cho giang sơn phương Nam.
Những năm cuối đời và di sản của Nguyễn Hữu Cảnh
Chặng cuối cuộc đời của vị danh tướng gắn với một chiến dịch nơi biên viễn và một cái kết đầy thương tiếc. Song, chính từ sự ra đi ấy, tên tuổi ông lại trở nên bất tử trong lòng nhân dân.
Chiến dịch Chân Lạp và cái chết năm 1700
Sau khi ổn định vùng Gia Định, Nguyễn Hữu Cảnh tiếp tục được giao trọng trách trấn giữ và bình định vùng biên giới phía tây nam khi tình hình Chân Lạp có biến. Cuối năm 1699 sang năm 1700, ông thống suất quân đi dẹp yên, hoàn thành nhiệm vụ an định biên cương.
Trên đường lui quân trở về, ông dừng ở cồn Cây Sao – nơi về sau dân gian nhớ ơn mà gọi là cù lao Ông Chưởng, nay thuộc Chợ Mới, An Giang – thì lâm trọng bệnh. Bệnh tình chuyển nặng, đến khi về tới quãng sông Sầm Giang, tức vùng Rạch Gầm thuộc Mỹ Tho ngày nay, ông qua đời vào tháng 5 âm lịch năm Canh Thìn 1700, hưởng thọ 51 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Chu vô cùng thương tiếc, truy tặng ông nhiều chức tước cao quý cùng tên thụy Trung Cần.
Di sản, đền thờ và sự tôn vinh

Sau khi mất, thi hài Nguyễn Hữu Cảnh ban đầu được an táng cạnh dinh Trấn Biên ở Cù lao Phố, về sau di hài được đưa về quê hương Quảng Bình. Công lao của ông được các đời chúa Nguyễn rồi triều Nguyễn ghi nhận và truy phong, liệt vào hàng công thần bậc cao.
Đặc biệt, trong tâm thức nhân dân Nam Bộ, ông được tôn kính như một vị thần bảo hộ: hàng loạt đền, đình, dinh thờ ông được lập nên trải khắp từ Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh đến An Giang và nhiều địa phương khác, nơi ông được thờ làm thành hoàng hoặc phúc thần. Có thể kể đến đền thờ Lễ Thành hầu ở Cù lao Phố (Biên Hòa), dinh Ông ở Chợ Mới cùng đình thờ ở vùng Châu Đốc (An Giang), hay khu lăng mộ và đền thờ trên chính quê hương Quảng Bình – những nơi mà hương khói vẫn không dứt qua bao thế kỷ. Nhiều lễ hội tưởng niệm ông hằng năm cũng trở thành nét sinh hoạt văn hóa gắn bó với cộng đồng. Tên của ông đồng thời được đặt cho nhiều con đường ở các đô thị lớn. Sự tôn vinh bền bỉ qua hàng trăm năm ấy là minh chứng cho tầm vóc và ân đức mà ông để lại cho vùng đất phương Nam.
Qua toàn bộ hành trình cuộc đời, câu hỏi Nguyễn Hữu Cảnh là ai đã có lời giải đáp trọn vẹn: ông là một danh tướng văn võ song toàn, vị khai quốc công thần đã đặt nền móng hành chính và xác lập chủ quyền cho vùng đất Nam Bộ. Từ dòng dõi công thần xứ Quảng Bình, qua những chiến công nơi biên thùy cho đến cuộc kinh lược lịch sử năm 1698, ông đã dành trọn tài năng và tâm huyết cho công cuộc mở mang bờ cõi. Dẫu ra đi khi tuổi đời chưa cao, di sản mà Nguyễn Hữu Cảnh để lại vẫn còn hiện diện sống động trong từng đơn vị hành chính, từng mái đền thờ và trong lòng biết ơn của bao thế hệ người dân phương Nam.
Lưu ý học thuật: một số chi tiết còn được các nguồn ghi khác nhau. Về danh xưng, nguyên danh của ông là Nguyễn Hữu Kính, còn “Cảnh” là cách đọc và gọi phổ biến về sau. Các mối liên hệ phả hệ với những danh nhân đời trước mang tính truyền thừa trong gia phả, cần được nhìn nhận thận trọng. Địa điểm ông qua đời cũng được chép hơi khác nhau – lâm bệnh ở cồn Cây Sao và mất ở vùng Rạch Gầm – nên được trình bày ở đây kèm sự cẩn trọng cần thiết.
>> Có thể bạn muốn xem thêm: Nỏ thần An Dương Vương có thật không? Giải mã bí ẩn nỏ Liên Châu Cổ Loa
